Trang chủ
TÌM KIẾM

Tìm kiếm nâng cao
Nghị quyết của ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá về phát triển Doanh nghiệp giai đoạn 2005-2010
13:41' 14/3/2007


TỈNH UỶ THANH HOÁ                                                                                                 ĐẢNG CỘNG SẢN VIÊT NAM

           *

Số 10-NQ/TU                                                                                 Thanh Hoá, ngày 21 tháng 3 năm 2005

NGHỊ QUYẾT

CỦA BAN CHẤP HÀNH ĐẢNG BỘ TỈNH

về phát triển doanh nghiệp giai đoạn 2005 - 2010

-----

Thực hiện đường lối phát triển kinh tế nhiều thành phần và chính sách khuyến khích phát triển doanh nghiệp của Đảng và Nhà nước, những năm gần đây, doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh phát triển cả về số lượng và chất lượng. Cơ cấu doanh nghiệp theo ngành, theo vùng, theo thành phần kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực. Nhiều doanh nghiệp đã quan tâm cải tiến thiết bị, đầu tư công nghệ mới, tăng năng suất lao động và chất lượng sản phẩm, hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh được nâng lên. Doanh nghiệp nhà nước được sắp xếp, cổ phần hoá, nâng cao vai trò tự chủ, tự chịu trách nhiệm, mở rộng sản xuất, kinh doanh có lãi. Doanh nghiệp dân doanh phát triển ngày càng nhiều, góp phần tạo thêm nhiều việc làm và nâng cao thu nhập cho người lao động, tăng thu ngân sách, đóng góp thiết thực vào thúc đẩy tăng trưởng kinh tế - xã hội.

Tuy nhiên, so với tiềm năng, thế mạnh của tỉnh, phát triển doanh nghiệp trong thời gian qua còn nhiều hạn chế, yếu kém:

- Số lượng doanh nghiệp tuy có tăng nhưng tỉ lệ doanh nghiệp trên dân số còn thấp xa so với bình quân chung cả nước. Đa số có qui mô nhỏ, cơ cấu doanh nghiệp chưa hợp lý, doanh nghiệp sản xuất công nghiệp, chế biến nông, lâm, hải sản chưa nhiều. Doanh nghiệp ở nông thôn, miền núi quá ít, có huyện chưa có doanh nghiệp.

- Chất lượng và hiệu quả hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp nhìn chung còn thấp: công nghệ ở mức trung bình và lạc hậu; năng lực, trình độ của đội ngũ cán bộ quản lý doanh nghiệp và tay nghề của người lao động còn yếu; chưa quan tâm đến việc đầu tư xây dựng thương hiệu và uy tín sản phẩm. Thu nhập của người lao động còn thấp, thực hiện chế độ bảo hiểm xã hội trong nhiều doanh nghiệp chưa bảo đảm.

- Quan hệ hợp tác, liên kết, liên doanh giữa các doanh nghiệp, giữa doanh nghiệp với hợp tác xã và hộ sản xuất kinh doanh còn hạn chế. Tình trạng cạnh tranh không lành mạnh, gian lận, trốn tránh nghĩa vụ, gây thiệt hại cho lợi ích chung đang diễn ra ở nhiều lĩnh vực.

Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế nêu trên, chủ yếu do: Cấp uỷ và chính quyền các cấp chưa quan tâm đúng mức và thiếu các cơ chế, chính sách hấp dẫn để khuyến khích phát triển doanh nghiệp. Thủ tục hành chính vẫn còn nhiều phiền hà, vướng mắc, làm cho các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển các loại hình doanh nghiệp không được triển khai thực hiện nghiêm túc; yêu cầu của chủ doanh nghiệp và nhà đầu tư chưa được giải quyết đầy đủ, kịp thời. Tâm lý xã hội và ý chí lập nghiệp bằng con đường phát triển sản xuất kinh doanh chưa được khơi dậy mạnh mẽ trong quần chúng nhân dân. Kiến thức và kinh nghiệm hoạt động của đội ngũ doanh nhân còn nhiều hạn chế. Công tác dạy nghề, đào tạo nghề cho người lao động chưa được quan tâm đúng mức. Các hoạt động xã hội nhằm xác định vai trò doanh nghiệp, tôn vinh sự cống hiến của doanh nhân chưa mạnh mẽ, chưa tạo được khí thế sôi động để khơi dậy tiềm năng, huy động rộng rãi các nguồn lực cho đầu tư phát triển doanh nghiệp.

Điều kiện về hạ tầng kinh tế như cửa khẩu, cảng, hệ thống cầu, đường giao thông, điện, thông tin liên lạc… vẫn còn nhiều yếu kém, làm hạn chế việc khai thác tiềm năng, lợi thế cho phát triển sản xuất, kinh doanh dịch vụ.

QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ VÀ CÁC GIẢI PHÁP

CHỦ YẾU PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP

GIAI ĐOẠN 2005 - 2010

1- Quan điểm phát triển doanh nghiệp:

- Phát triển doanh nghiệp ở mọi thành phần kinh tế là mục tiêu nhất quán, lâu dài của Đảng và Nhà nước ta, là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội trên địa bàn tỉnh.

- Doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, doanh nghiệp trong tỉnh, ngoài tỉnh, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đều bình đẳng trước pháp luật và được hưởng chính sách ưu đãi của tỉnh. Mở rộng liên doanh, liên kết giữa các loại hình doanh nghiệp, giữa doanh nghiệp với hộ sản xuất và người tiêu thụ để đạt được hiệu quả cao và bền vững.

- Tạo điều kiện thuận lợi cho sự ra đời của các doanh nghiệp mới, đồng thời khuyến khích các doanh nghiệp hiện có không ngừng đổi mới và hoàn thiện, đạt trình độ phát triển ngày càng cao, tạo lập uy tín và thương hiệu trên thương trường ngày càng bền vững.

- Phát triển doanh nghiệp là nhiệm vụ của tất cả các cấp, các ngành. Phải tăng cường sự lãnh đạo của cấp uỷ đảng, trách nhiệm quản lý của chính quyền, vai trò tuyên truyền vận động của các tổ chức xã hội, tạo môi trường và điều kiện thuận lợi để huy động mạnh mẽ nguồn lực của đội ngũ doanh nhân, của mỗi gia đình và toàn xã hội cho phát triển doanh nghiệp.

2- Mục tiêu:

Phát triển mạnh doanh nghiệp cả về số lượng, chất lượng; có quy mô, cơ cấu hợp lý, trình độ công nghệ thích hợp với tiềm năng và đặc điểm của các vùng, miền trong tỉnh; tạo dựng mối quan hệ hợp tác, liên kết chặt chẽ trong cộng đồng doanh nghiệp, với HTX và các hộ sản xuất để phát huy sức mạnh tổng hợp, nâng cao năng lực cạnh tranh, thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo ra nhiều sản phẩm hàng hoá, dịch vụ, mang lại ngày càng nhiều lợi nhuận cho doanh nghiệp, việc làm, thu nhập cho người lao động và tăng thu ngân sách.

Một số định hướng:

- Đẩy nhanh việc thành lập doanh nghiệp mới, đạt tốc độ tăng bình quân hàng năm từ 25 - 30% để đến 2010 đạt tỷ lệ 500 người dân trên 1 doanh nghiệp. Tạo điều kiện và khuyến khích các doanh nghiệp vừa và lớn phát triển nhanh, mạnh, vững chắc, có thương hiệu, uy tín cao trên thị trường, đem lại hiệu quả cao trong hoạt động sản xuất, kinh doanh.

- Tăng dần tỷ trọng doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp, nhất là công nghiệp chế biến nông, lâm, thuỷ sản, công nghiệp thu hút nhiều lao động. Phát triển nhanh các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ khoa học kỹ thuật cho nông, lâm, ngư nghiệp. Khuyến khích phát triển doanh nghiệp ở vùng nông thôn, miền núi, từng bước khắc phục tình trạng mất cân đối về phân bố doanh nghiệp theo vùng.

- Tiếp tục sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước; mở rộng phạm vi, mức độ và nâng cao chất lượng cổ phần hóa, tạo sức bật mới cho doanh nghiệp thông qua việc đổi mới quản lý và huy động thêm vốn kinh doanh. Kiên quyết loại bỏ tình trạng bao cấp đối với các doanh nghiệp kinh doanh, thiết lập môi trường bình đẳng cho các loại hình doanh nghiệp.

- Sắp xếp, đổi mới nông trường quốc doanh, gắn với quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và quy hoạch, kế hoạch phát triển nông nghiệp trên địa bàn; đổi mới tổ chức, quản lý và cơ chế, chính sách để các lâm trường làm tốt hơn công tác bảo vệ vốn rừng, khôi phục và phát triển tài nguyên rừng, nâng cao hiệu quả nghề rừng; góp phần tích cực vào công tác xoá đói, giảm nghèo, tạo việc làm, tăng thu nhập cho dân cư ở các vùng miền núi, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số.

3- Nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu:

a. Đổi mới quản lý nhà nước về phát triển doanh nghiệp:

- Kế hoạch hóa nhiệm vụ phát triển doanh nghiệp: Căn cứ mục tiêu chung về phát triển doanh nghiệp, UBND tỉnh xây dựng kế hoạch phát triển doanh nghiệp; tuyên truyền, vận động, đi đôi với ban hành cơ chế, chính sách khuyến khích, tạo điều kiện cho nhân dân và đội ngũ doanh nhân mạnh dạn đầu tư phát triển doanh nghiệp.

- Cải cách thủ tục hành chính trong đăng ký thành lập và quản lý doanh nghiệp: UBND tỉnh xây dựng và phổ biến rộng rãi, công khai qui trình đăng ký thành lập doanh nghiệp; thủ tục thẩm định, cấp phép và giải quyết các đề nghị của doanh nghiệp, đảm bảo nhanh chóng, thuận lợi và thiết thực.

Trên cơ sở các qui định của Nhà nước, UBND tỉnh rà soát, hoàn thiện qui chế quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp, cải tiến chế độ kiểm tra, kiểm soát, nhằm nâng cao ý thức trách nhiệm của chủ doanh nghiệp trước pháp luật, đồng thời ngăn chặn hành vi lợi dụng quyền thanh tra, kiểm tra để gây phiền nhiễu, cản trở sản xuất kinh doanh hợp pháp của doanh nghiệp.

Ban hành các qui định của UBND tỉnh về trách nhiệm của các cơ quan chuyên môn và công chức trong việc giải quyết yêu cầu của doanh nghiệp và các nhà đầu tư bảo đảm rõ ràng, minh bạch. Xử lý nghiêm những cán bộ, công chức có hành vi nhũng nhiễu, gây khó khăn cho doanh nghiệp. Hàng năm, UBND tỉnh tổ chức gặp gỡ, đối thoại trực tiếp với giám đốc các doanh nghiệp trên địa bàn.

- Thực hiện chính sách tài chính, tín dụng hỗ trợ doanh nghiệp: UBND tỉnh chỉ đạo các ngành hệ thống hoá, phổ biến rộng rãi cơ chế, chính sách của Trung ương, của tỉnh đối với doanh nghiệp để các doanh nghiệp và đông đảo nhân dân biết và tổ chức thực hiện.

Cải tiến phương thức kê khai, thu nộp và kiểm tra thực hiện nghĩa vụ thuế, đảm bảo dễ dàng và công bằng, chống trốn, lậu thuế, đi đôi với thúc đẩy mở rộng sản xuất kinh doanh, tạo nguồn thu cho ngân sách.

Dành một phần ngân sách địa phương, vận động các ngân hàng thương mại và các doanh nghiệp tham gia góp đủ vốn điều lệ để sớm thành lập Quĩ bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp vừa và nhỏ theo Nghị định 90 của Chính phủ.

Các ngân hàng thương mại cần đổi mới cơ chế cho vay, thế chấp, đáp ứng yêu cầu vốn kinh doanh của doanh nghiệp. Tiếp tục cải cách thủ tục hành chính, nâng cao năng lực chuyên môn của đội ngũ cán bộ ngân hàng, chủ động nắm bắt yêu cầu; hướng dẫn, giúp đỡ doanh nghiệp và nhà đầu tư lập dự án để vay vốn; giám sát, đảm bảo hiệu quả sử dụng vốn vay. Sớm thành lập chi nhánh Ngân hàng ngoại thương ở Thanh Hoá. Chỉ đạo thành lập và tăng cường quản lý các tổ chức tín dụng ngoài quốc doanh để đáp ứng kịp thời nhu cầu vay vốn đa dạng của doanh nghiệp vừa và nhỏ. Nhanh chóng mở rộng nghiệp vụ thanh toán qua ngân hàng để phục vụ, hỗ trợ và giám sát hoạt động của doanh nghiệp theo pháp luật.

- Hỗ trợ doanh nghiệp nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, nâng cao trình độ công nghệ: Khuyến khích doanh nghiệp đầu tư ứng dụng công nghệ mới để nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, hạ giá thành, tăng sức cạnh tranh, chủ động hội nhập.

Khuyến khích doanh nghiệp tham gia nghiên cứu, ứng dụng công nghệ mới; đồng thời có chính sách khen thưởng thoả đáng đối với các đơn vị áp dụng và phổ biến công nghệ tiến bộ vào sản xuất, kinh doanh đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội thiết thực.

b. Xây dựng môi trường tâm lý xã hội hướng về phát triển doanh nghiệp:

- Nâng cao nhận thức, cải tạo tâm lý, kích thích ý chí kinh doanh: Tăng cường tuyên truyền, phổ biến các chủ trương, chính sách khuyến khích phát triển sản xuất kinh doanh của Đảng và Nhà nước. Đề cao vị trí của doanh nghiệp và đội ngũ doanh nhân, nhất là những doanh nhân thành đạt. Phát động rộng rãi phong trào thi đua trong các cơ quan, đoàn thể, các cộng đồng dân cư để kích thích ý chí kinh doanh và tinh thần lập nghiệp. Đẩy mạnh cuộc vận động “Toàn dân thi đua làm kinh tế giỏi, từng nhà làm giàu cho mình, cho cộng đồng và cho đất nước”, thu hút ngày càng nhiều các doanh nghiệp người Thanh Hoá ở các địa phương khác, những nhà đầu tư ngoài tỉnh và ngoài nước, những người hăng hái lập nghiệp bằng con đường phát triển kinh doanh, nhất là trong giới trẻ.

Thường xuyên phát hiện, bồi dưỡng và tôn vinh các doanh nhân giỏi, các doanh nghiệp điển hình, kinh doanh có hiệu quả, đi đôi với phê phán tư tưởng bảo thủ, cầu an, các hành vi tiêu cực cản trở quá trình phát triển doanh nghiệp. Các đoàn thể chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội nghề nghiệp, các phương tiện thông tin đại chúng xây dựng chương trình hấp dẫn, có nội dung phong phú để tuyên truyền, vận động hội viên, tạo thành phong trào thi đua thành lập doanh nghiệp mới, xây dựng doanh nghiệp điển hình tiên tiến trên toàn tỉnh.

Tăng cường tổ chức đối thoại giữa lãnh đạo tỉnh, các cơ quan quản lý nhà nước với cộng đồng doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh để phát hiện và giải quyết kịp thời những vướng mắc, khó khăn; trưng cầu ý kiến doanh nhân để bàn bạc, quyết định và tổ chức thực hiện các chương trình phát triển kinh tế ở địa phương đạt hiệu quả cao nhất.

- Đào tạo nguồn nhân lực cho yêu cầu phát triển doanh nghiệp: Tổ chức rộng rãi phong trào học tập, nâng cao kiến thức về kinh tế thị trường và kỹ năng quản trị kinh doanh cho đội ngũ chủ doanh nghiệp và các chủ hộ kinh doanh.

Phát triển nhanh hệ thống các trường dạy nghề, đẩy mạnh xã hội hoá các hoạt động đào tạo nghề; mở thêm nhiều cơ sở dạy nghề ngoài công lập, liên doanh, liên kết với các đơn vị công lập để bồi dưỡng cán bộ quản lý kinh doanh, dạy nghề nâng cao trình độ và kỹ năng cho người lao động.

- Nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý doanh nghiệp: Mỗi doanh nghiệp phải xây dựng chiến lược kinh doanh, lựa chọn ngành nghề và hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh phù hợp; tập trung đầu tư để nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh cho sản phẩm chủ lực. Chú trọng bồi dưỡng nguồn nhân lực, phát huy yếu tố con người, tạo quan hệ gắn bó chặt chẽ, lâu dài giữa chủ doanh nghiệp và người làm công. Coi trọng văn hoá trong kinh doanh, ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý doanh nghiệp, phát triển thương mại điện tử để mở rộng thị trường. Chăm lo xây dựng và nuôi dưỡng thương hiệu sản phẩm, không ngừng nâng cao uy tín doanh nghiệp trong thương trường.

Khuyến khích thành lập và nâng cao hiệu quả hoạt động của các hội, hiệp hội nghề nghiệp để phát huy quan hệ hiệp tác, trợ giúp thành viên một cách thiết thực, đồng thời làm cầu nối giữa doanh nghiệp với các cơ quan quản lý chức năng để phản ánh nguyện vọng, đóng góp ý kiến đổi mới và hoàn thiện hệ thống thể chế, chính sách, cải cách thủ tục hành chính, tạo thuận lợi cho sự phát triển của cộng đồng doanh nghiệp.

c. Tiếp tục phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế, tạo diều kiện thuận lợi cho hình thành và phát triển doanh nghiệp:

- Đảm bảo mặt bằng cho nhu cầu sản xuất, kinh doanh: Ủy ban nhân dân các cấp tiến hành qui hoạch sử dụng đất, đảm bảo đủ mặt bằng cần thiết cho doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh. Tiếp tục nghiên cứu, cải tiến thủ tục giao đất cho nhà đầu tư thực hiện dự án thuận lợi và nhanh chóng. Thường xuyên theo dõi, kiểm tra tình hình sử dụng đất giao cho doanh nghiệp, xử lý nghiêm túc, kịp thời những đơn vị sử dụng đất sai quy định của pháp luật.

- Mở rộng và nâng cấp hệ thống kết cấu hạ tầng, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của doanh nghiệp: Xây dựng cảng nước sâu Nghi Sơn, đầu tư đồng bộ hệ thống luồng lạch, cầu cảng, phương tiện bốc xếp, bến bãi, kho tàng, đáp ứng yêu cầu vận chuyển hàng hoá tổng hợp, vận chuyển bằng container, đi đôi với xây dựng cơ chế quản lý minh bạch, sớm trở thành cửa khẩu thuận lợi cho thông thương hàng hoá với khu vực và quốc tế. Phát triển nhanh hệ thống giao thông trên địa bàn tỉnh, kết nối các địa phương, các vùng kinh tế trong tỉnh với thị trường trong và ngoài nước. Có cơ chế thích hợp để huy động nguồn vốn từ cộng đồng doanh nghiệp, cùng với Nhà nước nhanh chóng nâng cấp hệ thống cầu trên các tuyến đường giao thông huyết mạch, đảm bảo sự hoạt động thuận lợi cho các phương tiện vận tải container. Cải tiến mạnh mẽ công tác quản lý trên đường giao thông, loại bỏ tình trạng lạm dụng kiểm tra, kiểm soát, gây phiền hà cho lưu thông hàng hoá, tạo môi trường hấp dẫn để thu hút nguồn hàng xuất nhập khẩu qua các cửa khẩu của tỉnh.

Mở rộng, nâng cấp các trạm biến áp và hệ thống truyền tải điện, đi đôi với cải cách mạnh mẽ công tác quản lý, gắn trách nhiệm và quyền lợi giữa tổ chức cung ứng và đơn vị sử dụng điện, khắc phục có hiệu quả tình trạng thiệt hại của doanh nghiệp do các sự cố về điện gây ra. Có kế hoạch đầu tư để đáp ứng đủ công suất và chất lượng điện năng theo yêu cầu phát triển của hệ thống doanh nghiệp.

Đầu tư hệ thống cấp, thoát nước đến các khu công nghiệp. Có chính sách hỗ trợ doanh nghiệp để giải quyết yêu cầu cấp, thoát nước phục vụ sản xuất và đời sống công nhân.

Phát triển mạng lưới thông tin liên lạc, thông suốt đến tất cả các xã, thị trấn, các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, cụm làng nghề, các vùng nguyên liệu tập trung trong toàn tỉnh. Nhanh chóng phủ sóng điện thoại di động trên các trục quốc lộ, thị trấn các huyện miền núi. Xúc tiến việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản trị doanh nghiệp, liên kết đối tác, quảng bá sản phẩm và thương hiệu, phát triển thương mại điện tử.

Tiếp tục phát triển các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, cụm làng nghề, khu trang trại; tạo điều kiện ưu đãi về mặt bằng, kết cấu hạ tầng và thủ tục hành chính để thu hút các nhà đầu tư. Khuyến khích doanh nghiệp đầu tư và kinh doanh kết cấu hạ tầng (cầu, đường giao thông, bến cảng, hạ tầng khu, cụm công nghiệp...) bằng nhiều phương thức thích hợp như BOT, BT. Có chính sách khuyến khích doanh nghiệp mở cơ sở kinh doanh mới trong các cụm công nghiệp nhỏ, cụm làng nghề.

TỔ CHỨC THỰC HIỆN

Tổ chức quán triệt Nghị quyết của Tỉnh uỷ đến các tổ chức Đảng và quần chúng nhân dân. Lấy năm 2005 là “năm phát triển doanh nghiệp”, tạo đà cho thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển doanh nghiệp, phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2010.

Các cấp uỷ Đảng xây dựng chương trình hành động phát triển doanh nghiệp, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong các doanh nghiệp, lấy kết quả phát triển doanh nghiệp và hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trên địa bàn làm một trong các chỉ tiêu đánh giá năng lực, hiệu quả lãnh đạo hàng năm của cấp uỷ và người đứng đầu.

Ban Cán sự Đảng UBND tỉnh nghiên cứu cải tiến công tác quản lý nhà nước nhằm nâng cao tính chủ động, sáng tạo của các doanh nghiệp; nâng cao chất lượng và hiệu quả cải cách hành chính, trước hết là chỉ đạo thực hiện nhanh gọn các thủ tục đăng ký đầu tư, sản xuất kinh doanh và thực hiện đầy đủ, kịp thời các cơ chế, chính sách phát triển doanh nghiệp, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho yêu cầu phát triển của doanh nghiệp.

Ban Tổ chức Tỉnh uỷ và các cơ quan liên quan, căn cứ vào hướng dẫn của Trung ương, xây dựng đề án thành lập tổ chức đảng, đoàn thể, phát triển đảng viên, đoàn viên trong các loại hình doanh nghiệp.

Ban Dân vận Tỉnh uỷ, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội xây dựng chương trình vận động hội viên, đoàn viên tham gia phong trào thi đua làm kinh tế và phát triển doanh nghiệp. Các tổ chức đại diện doanh nghiệp làm tốt hơn nữa vai trò cầu nối, tuyên truyền phổ biến chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước Trung ương và địa phương đến cộng đồng doanh nghiệp và đội ngũ doanh nhân, nắm bắt và phản ánh kịp thời tâm tư, nguyện vọng và ý kiến đề xuất của thành viên đối với hoạt động lãnh đạo và quản lý doanh nghiệp của tỉnh.

Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ chỉ đạo ngành văn hoá - thông tin, các cơ quan báo chí, chủ động xây dựng chương trình tuyên truyền Nghị quyết của cấp uỷ và cuộc vận động phát triển doanh nghiệp trên các phương tiện thông tin đại chúng; mở chuyên trang, chuyên mục “phát triển doanh nghiệp”, kịp thời và thường xuyên phát hiện để tôn vinh những nhân tố mới, những điển hình tiên tiến, những doanh nhân giỏi, hoạt động có hiệu quả, đồng thời phê phán những biểu hiện thiếu trách nhiệm, gây nhũng nhiễu, khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh; chống các hành vi gian lận, vi phạm kỷ cương, luật pháp của Nhà nước.

Ban Kinh tế Tỉnh uỷ chủ trì, phối hợp với Ban Cán sự Đảng UBND tỉnh, Đảng đoàn HĐND tỉnh và các ban của Tỉnh uỷ làm tốt công tác tuyên truyền, hướng dẫn, chỉ đạo, kiểm tra việc lãnh đạo phát triển doanh nghiệp trong tỉnh, theo dõi, tổng hợp tình hình phát triển và hoạt động của doanh nghiệp, tham mưu, đề xuất các chủ trương, cơ chế, chính sách đối với doanh nghiệp, kịp thời báo cáo Ban Thường vụ, Ban Chấp hành đảng bộ tỉnh.

Nghị quyết này được quán triệt đến chi bộ đảng và tuyên truyền rộng rãi trong nhân dân./.

Nơi nhận:                                                                                                                              T/M TỈNH UỶ
- Ban Bí thư TW Đảng                                                                                                              BÍ THƯ
- Ban Kinh tế Trung ương b/c                                                                                                 ( Đã ký)
- Văn phòng Trung ương
- Các đ/c Tỉnh uỷ viên
- Các huyện, thị, thành uỷ                                                                                                
- Các ban, ban cán sự đảng,
- Đảng đoàn, đảng uỷ trực thuộc
- Các ngành, đoàn thể cấp tỉnh
- Lưu VPTU.                                                                                                                           Phạm Văn Tích

Các tin tiếp
Chính sách khuyến khích đầu tư và Phát triển sản xuất kinh doanh   (15/3/2007)
Chính sách thu hút tế đầu tư cải tạo, nâng cấp, xây dựng mới lưới điện hạ thế nông thôn   (15/3/2007)
Thanh Hoá, thưởng lên tới 200 triệu đồng cho tổ chức, cá nhân có công vận động vốn đầu tư vào Khu kinh tế Nghi Sơn.   (15/3/2007)
Cơ chế, chính sách ưu đãi đầu tư vào Khu Kinh tế Nghi Sơn   (23/4/2007)
Chính sách đầu tư vào khu kinh tế Nghi Sơn   (23/4/2007)
Nghị quyết của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về phát triển bưu chính, viễn thông và công nghệ thông tin tỉnh Thanh Hóa đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020   (23/4/2007)
Chính sách khuyến khích đầu tư và phát triển sản xuất kinh doanh   (24/8/2007)
Một số cơ chế chính sách khuyến khích đầu tư và phát triển sản xuất kinh doanh hiện hành ở Thanh Hoá (phần 1)   (24/8/2007)
Danh mục dự án kêu gọi đầu tư thời kỳ 2006 - 2010 (phần 1)   (24/8/2007)
Danh mục dự án kêu gọi đầu tư thời kỳ 2006 - 2010 (phần 2)   (27/8/2007)
Các tin trước
Chính sách của Chính phủ về phát triển Doanh nghiệp vừa và nhỏ   (14/3/2007)

Trang chủ | Giao thương | Sản phẩm | Doanh nghiệp | Thông tin | Văn phòng của tôi

Sơ đồ site | Về chúng tôi | Quảng cáo | Điều khoản sử dụng | Liên hệ | Trợ giúp